
Anh Ba, thủy thủ phà 100 của bến phà Rạch Miễu kéo giật chúng tôi ra thành phà: dưới cái nắng tháng bảy chói chang, in hình trên nền trời xanh ngắt là hàng chục dây văng được căng kéo thẳng băng tựa như hai chiếc quạt khổng lồ xoè hết cỡ từ trên trời chúc xuống sóng nước sông Tiền đỏ màu phù sa. Phía dưới, những chiếc phà oằn nặng người xe từ từ trôi… Một hình ảnh thật ấn tượng. Hiện tại và tương lai vẫn quấn quýt nhưng cái mới hiển hiện sao thật gần, thật đẹp.





Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60, toàn tuyến đường và cầu dài khoảng 11.130 mét (riêng phần đường dẫn và cầu dài dài 8.331m) nối hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang; cách TP Hồ Chí Minh 70 km, cách ngã ba Trung Lương (QL1A) 3km và cách Thị xã Bến Tre 12 km. Cầu Rạch Miễu hoàn thành, đường từ Bến Tre đến Trà Vinh- Sóc Trăng theo quốc lộ 60 sẽ ngắn hơn quốc lộ 1A (qua cầu Mỹ Thuận) 100 km; thời gian đi từ Bến Tre đến thành phố Hồ Chí Minh được rút ngắn. Xứ dừa sẽ nhanh chóng hội nhập với toàn vùng ĐBSCL, cả nước cùng bạn bè gần xa.
“…Nằm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình mà tưởng tiếng ai gọi đò”
(Sông lấp-Tú Xương)
Vật đổi sao dời bâng khuâng bao người ưa hoài niệm. Các bạn trẻ Bến Tre còn mở trang Web lấy ý kiến nên giữ lại phần nào “bến cũ hương xưa” còn ông Hoàng Trọng Minh – 63 tuổi, quản lý đình cổ Tân Thạch lại hy vọng một mạch sống mới sẽ xuất hiện cho cả hơn 250 người mưu sinh quanh bến phà bao năm nay.

Đó sẽ là bước ngoặc lịch sử, đột phá cho mảnh đất ba dải cù lao Bến Tre (cù lao An Hòa, Bảo, Minh), nơi duy nhất của cả đồng bằng châu thổ sông Cửu Long cho đến nay vẫn còn biệt lập với đất liền. Sự phân cách địa hình tự nhiên đó đã mặc nhiên tồn tại hơn trăm năm, trước cả khi hạt tham biện Bến Tre chính thức trở thành tỉnh, có mặt trên bản đồ hành chánh (1900). Thời khẩn đất hai bờ sông Tiền được nối với nhau bằng những nhịp chèo dẻo dai của các má các chị; sau này bằng những bồn chồn trông đợi bên này bên kia do những đoàn xe chật cứng cả hai đầu phà… Cầu Rạch Miễu hoàn thành, ai đó chỉ mất 5 – 7 phút qua cầu thay vì hơn 25 phút ngồi phà “dằng dặc” nỗi nhớ thương… Quãng thời gian chênh lệch đó, kỳ lạ thay người dân nơi đây phải đi miệt mài hết bao thế hệ để hôm nay điều kỳ diệu đó mới đến, từ chính lớp cháu con những người mở đất cùng lòng người cả nước tụ về.


Phát triển kết cấu hạ tầng được Tỉnh ủy Bến Tre xác định là một trong những khâu đột phá quan trọng để khơi dậy toàn lực tiềm năng kinh tế - văn hóa – xã hội tỉnh nhà. Cùng các công trình, dự án trọng điểm khác như cống đập Ba Lai, cầu Cổ Chiên, cầu Hàm Luông… cầu Rạch Miễu còn là bệ phóng tạo cho “Dáng đứng Bến Tre” một tư thế mới, hiên ngang kỳ vỹ, hiện đại, hội nhập hơn trước xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thị trường đa dạng, đầy biến động. Dự án cầu Rạch Miễu, đứng sau 2 dự án xây dựng cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ, nhưng mang ý nghĩa đặc biệt vì do người Việt Nam thiết kế và được xây dựng bằng nguồn vốn trong nước.
Năm 2002 cầu Rạch Miễu chính thức khởi công. Trước vận hội mới, Bến Tre bắt tay xây dựng hai cụm công nghiệp Giao Long và An Hiệp (huyện Châu Thành) cùng với chính sách mời gọi đầu tư hết sức thuận tiện, thông thoáng. Số lượng các đoàn trong, ngoài nước ghé thăm, tìm hiểu cơ hội rồi quay lại ký kết đầu tư tăng dần theo sự gia tăng tổng vốn FDI trên địa bàn. Năm 2004 mới khoảng 5 triệu USD thì năm 2006 đã nhảy vọt trên 23 triệu USD. Năm 2007 tổng vốn kêu gọi đầu tư vào KCN Giao Long và CCN An Hiệp là 329,563 tỉ đồng, tăng 42% so năm 2006 và 69,1 triệu USD đối với doanh nghiệp FDI, tăng 151% so năm 2006. Cũng trong năm này, chỉ số năng lực cạnh tranh của Bến Tre tăng đáng kinh ngạc, đứng hạng thứ 14/64 tỉnh thành, tăng 12 bậc so với năm 2006.

Cơ sở hạ tầng, đường nội ô được mở rộng thênh thang với quyết tâm trở thành đô thị loại 3 vào năm 2010 cùng với cây cầu đang thành hình tác động mạnh mẽ, tích cực đến từng gia đình. Nhiều cơ hội mới, cho mọi người dân được mở ra, hối hà đầy sinh khí. Giá đất, đặc biệt ven QL 60 vụt biến động, tăng giá trị chóng mặt (trước khoảng 100 triệu đồng/công nay trên 500 triệu/công đất !). Nhiều “đại gia” nhanh chân đón đầu mua những khu đất lớn, vị trí đẹp nhằm mở nhà hàng, khu du lịch…
Cô Hồng Thủy là tuýp người kinh doanh mới, khá năng động, nhạy cảm đón bắt thời cơ. Mới ngoài 30 tuổi đã là chủ khu du lịch Hương Dừa rộng 5.000 m2 với vườn nhãn, nhà xưởng sản xuất kẹo dừa, trưng bày thủ công mỹ nghệ… đón 15 ngàn khách mỗi năm (2/3 là khách nước ngoài) và một quán “Cháo cua đồng” trứ danh nằm ngay trên QL 60. “Cầu Rạch Miễu xây dựng giữa không gian sông nước cù lao hữu tình nên khi hoàn thành nhất định lượng khách sẽ đến với Bến Tre đông gấp bội, đặc biệt là khu vực này, sát ngay đầu cầu dẫn, cửa ngõ vào nội ô thị xã” nên cô dự định mở thêm resort ngay trong vườn…


Ngồi ghe chèo cùng cô vào bến Túc, một trong ba điểm du lịch của ông Mười Hải mà cô đang liên kết mới thấy hết sự sôi động của ngành du lịch nơi đây: con rạch mát lạnh, xanh ngát bóng dừa ngược xuôi tấp nập ghe xuồng chở đầy du khách. “Hôm nay riêng điểm du lịch này đón khoảng 500 lượt người”, ông chủ Mười Hải nói khi điện thoại di động vẫn réo liên tục. Hiện ông đang “nối tour” với nhiều cơ sở, đơn vị du lịch trong ngoài khu vực.







Ông Mười Hải (người bên trái)

Đi cùng Trọng Văn, một HDV kỳ cựu của du lịch Bến Tre tới điểm du lịch của ông Hai Chi mới cảm nhận phần nào hấp lực từ xứ dừa: tay lùa dây đàn, miệng ca, đầu lắc lư “chưa hết chiêu” đã khiến Katja Rauhut, 27 tuổi, nữ chuyên viên hãng Volkswagen (CHLB Đức) nghiêng ngả hoà giọng, mắt nhắm tịt, tay đập bàn, tóc bay xoã theo từng giai điệu nóng bỏng… Phóng khoáng, chân tình, thân thiện “rặt Nam bộ” cùng với thiên nhiên nguyên sơ, môi trường khoáng đạt là những yếu tố giúp Bến Tre “hút hồn” du khách.


Khai thác thế mạnh vốn có sẽ nhanh chóng làm mình “đỡ mất sức” lại mạnh lên, cứng cáp hơn khi hội nhập. Các sản vật quê hương có thể thăng hoa thành thương hiệu, sản phẩm kinh tế-văn hoá-du lịch độc đáo, hấp dẫn thương trường, viễn du sang tận trời Âu biển Á. Người ta đã bàn nhiều đến việc lập “đường băng” mới cho các sản phẩm xứ dừa thăng hoa hơn thời “hậu cầu Rạch Miễu”. Ngoài kẹo dừa, Bến Tre còn nức tiếng khắp “lục tỉnh” bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc... Làng nghề Cái Mơn (huyện Chợ Lách), “Đệ nhất cây giống” hàng năm cung ứng cho thị trường hàng triệu giống cây ăn quả và cây kiểng. Nơi đây cũng có nghề rang trầu và làm “cau tầm vung” (cau để chín khô trên cây, không xắt ra) rất nổi tiếng.

Bên dòng Hàm Luông, trong nhà hàng khách sạn Hùng Vương, đầu bếp Long dọn lên đãi khách thực đơn gồm mắm cá linh kho quẹt ăn với khổ qua đèo luộc, cá kèo kho tộ, canh cua nấu với mướp và rau mùng tơi. Hôm sau năm chén nhỏ xinh xinh với tôm rim, khô cá tra phồng, muối mè… được bày gọn trong một khay tròn.


Nấm mối (con mối cho meo xé đất chui lên) Bến Tre mới thật lạ và “Tour săn nấm mối” chắc chắn sẽ khiến khách ngỡ ngàng, đầy thú vị. Mùa nấm mối thường bắt đầu vào “mùng 5 tháng 5” và chỉ kéo dài trong khoảng một tháng, khi trời vừa dứt mưa và nắng lóe lên, trải dài trên những vườn dừa cổ. Nấm mối ở đây có hương vị khác và giá cao hơn hẳn “đồng loại” ở miền Đông; ngọt, thơm ngay khi đưa vô miệng chứ không phải “đắng trước ngọt sau’ như cái anh nấm tràm ở Hà Tiên. Gọt khô cho hết đất rồi nhẹ tay rửa sạch cho núm đừng rớt khỏi thân; đổ ít dầu, bỏ nấm vô đảo nhẹ, gia vị chỉ cần chút muối và ớt dập nhuyễn là ăn… chết bỏ bởi thơm, ngọt hơn thịt gà. Nấm mối có thể chế biến thành nhiều món, món nào cũng ngất ngây thực khách như xào, nấu cháo, bọc giấy bạc nướng, làm nhân bánh xèo… Giá 1 ký nấm tươi hiện thời là 180 ngàn, khi cao điểm trên 300 ngàn. “2 triệu đồng/kg nấm mối khô nhưng gom đủ không phải dễ”, dì Ba ở chợ Bến Tre trả lời từ tốn mà tai “lùng bùng”, muốn “choáng”.


Đêm qua phà, nhìn những ánh đèn lấp lánh phát ra từ độ cao hơn trăm thước của công trình cầu Rạch Miễu lại nghĩ đến tập quán “chia lửa”, một trong những đặc trưng văn hóa độc đáo trong đời sống cư dân xứ dừa. Cây đuốc dừa để gọi đò, để trao cho người đi đêm lỡ đường, để bừng sáng hơn trong đêm Đồng Khởi. Đuốc dừa gắn bó với con người từ lúc chào đời cho đến khi giã từ nhân thế, chứa đựng một ý nghĩa nhân văn, nét đẹp truyền thống, thể hiện tính cộng đồng rất cao. Bản sắc văn hóa của người Bến Tre càng tỏa sáng hơn khi bước ra “biển lớn” không chỉ qua lễ hội truyền thống văn hoá hàng năm (1/7). Mảnh đất từng sản sinh, ôm ấp cụ Đồ Chiểu “Thà đui mà giữ đạo nhà…” cùng người con gái Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ Nữ giới chung, “Đem chuông lên đánh Sài Gòn/ Để cho nữ giới biết con ông Đồ”; Võ Trường Toản; Phan Văn Trị; Phan Thanh Giản, “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông tin theo” (bài văn tế Phan Thanh Giản của Phạm Phú Thứ, người cùng đi sứ sang Pháp); nhà bác học Trương Vĩnh Ký; Trương Gia Mô… và sau này là Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, anh hùng tình báo Phạm Ngọc Thảo, nhà văn hoá Ca Văn Thỉnh, Lê Long Vân (Nghệ sĩ Ba Vân), Lê Văn Đệ (mỹ thuật), Diệp Minh Châu, Trần Văn Ơn, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thành Trung… “Ông già Ba Tri” đâu chỉ là giai thoại mà còn là biểu tượng của đức tính cương trực, trọng nhân nghĩa, lẽ phải của dân xứ cù lao.

Mảnh đất này có đến gần 35 ngàn liệt sĩ, trên 15 ngàn thương binh, 1.936 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gần 10 ngàn người bị nhiễm chất độc da cam… Một con số đau thương nhưng anh hùng của ba dải cù lao. Lịch sử còn ghi nhận sự sáng tạo vô cùng, “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của người Bến Tre. Còn đó đoàn tàu vượt biển ra Bắc đầu tiên, ngay từ 1946, rồi mở đường Hồ Chí Minh trên biển, làm đầu cầu tiếp nhận vũ khí xã Thạnh Phong (gồm vàm Khâu Băng, cồn Bửng, cồn Lợi, cồn Lớn); tay không làm nên Đồng Khởi (17.1.1960), chuyển ngoặt tình hình; “Đội quân tóc dài” độc nhất vô nhị thế giới và “nữ tướng” đầu tiên của QĐNDVN Nguyễn Thị Định… Những điều đó làm nên Bến Tre, rất riêng và khiến người ta tin vào sự đi lên của xứ dừa.
Giữa sông Tiền, trên độ cao hơn trăm mét, đêm nào người Bến Tre cũng “chia lửa”, tiếp sức cho nhau.
Vũ Thống Nhất
Ảnh: Mỹ Xuyên































































